VIỆT NAM

NGHIÊM! ... CHÀO CỜ! ... CHÀO!

THANHQUANG1180

KÍNH BẠN CHÉN TRÀ

DỰ BÁO THỜI TIẾT

MÁY TÍNH

Code:

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Videoplayback_.flv Images30.jpg Diendanhaiduongcom20012m1.jpg Thanhnhaho1.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Chuc_2013_Quang_loan.swf Bannertet2013.swf My_Hanh_chuc_mung_nam_moi_2013.swf Nguoi_thay_nam_xua_co_nhac_.swf 2011_chuan.swf Sntrungkien.swf Tan_co_loi_thu_xua.swf Namhocmoi_2.swf Ldta2.swf P1000722.jpg P1000737.jpg P1000759.jpg P1000772.jpg

    ĐỌC BÁO CÙNG BẠN

    Sắp xếp dữ liệu

    THANHQUANG1180

    "Lạc nước hai xe đành bỏ phí @ Gặp thời một tốt cũng thành công"

    GÓC TRA TỪ ĐIỂN


    Tra theo từ điển:


    THANHQUANG1180

    "GIEO ĐỨC TRỒNG NHÂN ĐƯỜNG HƯỞNG THIỆN @ LÀM CẦN TIÊU KIỆM ĐÍCH PHỒN VINH"

    LÀNG CÓ NHIỀU GIÁO SƯ - TIẾN SĨ ( XÃ HOẰNG LỘC - HUYỆN HOẰNG HÓA - TỈNH THANH HÓA).

    Quê Hương Đất Trạng Email:thanhquang1180@yahoo.com.vn Friday,ngày30/04/2010 Website:http://viollet.vn/thanhquang1180/ LÀNG CÓ NHIỀU TIẾN SĨ ( Xã Hoằng Lộc – Huyện Hoằng Hóa – Tỉnh Thanh Hóa ) “Quê hương: Nguyễn Thanh Quang – Hiện đang công tác tại Trường THCS Hồ Thị Kỷ - Huyện Thới Bình – Tỉnh Cà Mau” Tel: 0985 955 975 Nhà thờ Nguyễn Quỳnh - Cống Quỳnh – Trạng Quỳnh Xã Hoằng Lộc – Huyện Hoằng Hóa – Tỉnh Thanh Hóa (THANHQUANG1180) - Việc học ở Hoằng Lộc đã thành nếp, nhà nhà học, người người học. Nơi đây đã có truyền thống cha dạy con, ông dạy cháu, anh dạy em nối tiếp dòng thi thư. Dường như vật chất càng khó khăn sự khổ luyện học hành càng rõ, học để thoát nghèo, thoát khổ, để thi thố với đời, với người. Sĩ tử Hoằng Lộc phần lớn học trong gia đình, trong dòng họ. “Từ mấy thế kỷ nay, trong tâm thức không ít người Việt tôn vinh Cống Quỳnh. Nhiều nơi còn gọi Hoằng Lộc là đất Trạng, đất có nhiều người đỗ đạt khoa bảng”. Lê Khả Phiêu ( Nguyên Tổng Bí Thư BCHTW Đảng (18-2-2003). Hoằng Lộc (Hoằng Hóa) ẩn mình dưới những rặng dừa quanh năm một màu xanh dịu, nhìn đến mát mắt. Với một quần thể kiến trúc bố trí tương đối hài hòa, gồm nhà thờ họ, miếu mạo, đình chùa, trường học, nhà ở cùng với một hệ thống đường sá phong quang, Hoằng Lộc mang phong thái thanh lịch của một vùng đất học, làm cho ai qua đây, dù chỉ một lần cũng lưu lại trong ký ức những ấn tượng khó có thể phai mờ. Làng có nhiều tiến sĩ Ông Nguyễn Văn Kỳ, Chủ tịch Hội khuyến học xã Hoằng Lộc, cho biết: “Thời phong kiến, Hoằng Lộc có 12 vị tiến sĩ được đề danh trên bảng vàng đại khoa, trong đó có 7 vị được khắc tên tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội). Sau Cách mạng Tháng Tám, số tiến sĩ là con em Hoằng Lộc lên đến 45 người. Cuối năm 2008 vừa qua, đại hội dòng họ và khu dân cư hiếu học tổng kết trong 5 năm qua toàn xã có 258 gia đình đạt danh hiệu gia đình hiếu học, hơn 60 gia đình - mỗi nhà có từ 3 đến 5 người con học đại học. Có những gia đình cả con trai, con gái, con dâu và cháu nội đều là tiến sĩ. Trong 5 năm, toàn xã có 204 em trúng tuyển vào các trường đại học. Theo lời kể của ông Kỳ, chúng tôi tìm đến nhà bà Nguyễn Thị Huệ ở xóm Hưng Tiến. Bà Huệ cho biết: Tôi và ông nhà lấy nhau trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, xóm làng nghèo xơ xác. Nhưng, dù khó khăn đến đâu chúng tôi cũng cố gắng tảo tần để các con được ăn học. Hiện tại nhà bà có 4 người con đều là tiến sĩ, cô con dâu là thạc sĩ và đứa cháu nội Nguyễn Song Anh cũng là tiến sĩ”. Chia tay bà Huệ, tôi đã tìm đến thầy giáo Nguyễn Song Hoan – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức, là con trai của bà. Anh Hoan xúc động khi nhớ lại những tháng năm miệt mài đèn sách: “Bốn anh em chúng tôi được bố mẹ xác định việc học là việc chính, xem đó là nghề để kiếm sống sau này. Dẫu có nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng tôi thấy con em Hoằng Lộc không chùn bước trước nghèo nàn mà luôn vươn lên để học giỏi”. Ông Hoàng Hữu Tài, Chủ tịch UBND xã Hoằng Lộc, cho biết: Ở Hoằng Lộc, Bảng Môn đình được xây dựng làm biểu tượng thiêng liêng của đất học, nơi hội tụ và biểu dương thành tích học tập của các sĩ tử, nho sinh. “Bảng Môn” có nghĩa là cửa vào của các nhà khoa bảng. Vào dịp đầu xuân năm mới, con cháu đỗ đạt hội tụ về Bảng Môn đình để “vinh quy bái tổ”. Sau lễ nghi là phần đọc tóm tắt tiểu sử những vị đỗ đại khoa qua các triều đại nhằm nhắc nhở các gia đình giáo dục con cái phát huy truyền thống học hành của các bậc tiền bối. Trong ngày tế lễ đầu năm, việc bố trí chỗ ngồi được quy định theo lệ: Đỗ đại khoa (tiến sĩ) ngồi chiếu trên rồi đến hương cống, cử nhân. Hàng chiếu bên trái là các sinh đồ, tú tài. Hàng chiếu bên phải dành cho những nho sinh, sĩ tử chưa thi đỗ, hoặc những người trong làng văn - tuy chưa có học vị nhưng phẩm chất đạo đức tốt. Gia phả các dòng họ ở Hoằng Lộc đều chú trọng nêu cao tinh thần khuyến học bằng vật chất cho những người học hành đỗ đạt. Gia phả dòng họ Nguyễn Nhân Lễ chép: “Họ có 8 sào ruộng, theo tộc ước, người nào đỗ đại khoa (tiến sĩ) thì được họ chia cho một phần trong số ruộng đất ấy để xây nhà ở. Số còn lại dùng làm “học điền” cho con em trong dòng họ”. Trai thanh, nữ tú Hoằng Lộc luôn đặt việc học lên hàng đầu: Trai mỹ miều gắng công đèn sách Gái thanh tân chăm mạch cửi canh. Chính điều này mà đất học Hoằng Lộc đã có nhiều tấm gương sáng của thầy và trò. Hiện tại, xã Hoằng Lộc có một câu lạc bộ nhà giáo hưu trí với gần 100 nhà giáo sinh hoạt. Điều đó cho thấy, người thầy có ngay trong gia đình, trong dòng họ. Học trò Hoằng Lộc xưa cũng rất nổi tiếng về luyện rèn trong học tập, kiên trì trong khoa cử. Đó là Nguyễn Cầu thi đỗ tú tài lúc 13 tuổi, năm 16 tuổi đỗ hương cống; Nguyễn Huy kiên nhẫn dự thi hội tới 9 khoa; Nguyễn Đôn Túc dự tới 9 khoa thi hương, đậu cử nhân lúc đã cao tuổi khiến cho quan trường đương thời rất cảm phục. Ngày nay, mỗi năm cả xã có từ 40 đến 50 em thi đậu vào các trường đại học cho thấy một sức sống mãnh liệt về thi cử ở miền đất học ấy. Tiêu biểu như em Nguyễn Phi Lê ( Thôn Đình Nam – Hoằng Lộc – Hoằng Hóa – Thanh Hóa ) đoạt giải Nhì cuộc thi Toán quốc tế tại Hàn Quốc năm 2000, được tuyển thẳng vào Đại học Bách khoa Hà Nội. Với thành tích học tập xuất sắc, em được dự thi du học học bổng toàn phần tại Nhật Bản. Có lẽ, những lời ca ngợi của nhân dân xứ Thanh và cả nước: “Thi Hoằng Hóa, khóa Đông Sơn”, hay “Cơm Nông Cống, cá Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa” có một phần đóng góp không nhỏ của Hoằng Lộc. Làm giàu bằng trí tuệ Là vùng đất sản xuất nông nghiệp, Hoằng Lộc không chỉ giàu kinh nghiệm trong gieo trồng cây lúa mà còn rất giàu kinh nghiệm về trồng khoai và cây dừa cho năng suất cao. Gặp những năm mất mùa, khoai lang Hoằng Lộc đã trở thành nguồn lương thực chính nên dân gian xưa có câu: Ông nghè, ông cống cũng sống vì lang Ông lý giữa làng không lang cũng chết. “Trăm nghe không bằng một thấy”, tôi được anh Thọ, cán bộ văn hóa xã Hoằng Lộc, dẫn đi thăm một số mô hình kinh tế của nông dân trong xã. Đến thăm gia đình anh Nguyễn Hữu Quyền, ở thôn Sau mới thấy việc làm kinh tế ở Hoằng Lộc không “ngoa” tý nào. Anh Quyền là hộ nông dân sản xuất giỏi và con cái thành đạt. Anh nhận 2 mẫu ruộng khoán. Ruộng được tích tụ, anh mạnh dạn mua máy móc đưa cơ giới hóa vào sản xuất nên hiệu quả rất cao. Bên cạnh đó, anh liên tục sử dụng các loại giống lúa mới nên bình quân mỗi năm thu hoạch được 10 tấn thóc. Vừa làm cho gia đình, vừa phục vụ cho các hộ có nhu cầu về máy móc, anh Quyền cũng kiếm được từ 50 đến 60 triệu đồng/năm từ trồng lúa, chăn nuôi và phục vụ máy móc cho nông dân. Hoằng Lộc có nhiều mô hình làm ruộng như anh Quyền. Cùng với sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực kinh doanh – dịch vụ thương mại cũng được coi là thế mạnh của hội nhập và phát triển. Bởi lẽ, toàn xã có 240 hộ kinh doanh, buôn bán có thu nhập ổn định trên 60 triệu đồng/năm. Mạng lưới giao thông nông thôn đều được bê tông hóa, có đường nhựa đi vào tận từng thôn xóm. Hơn 50% số hộ gia đình có nhà cao tầng, 100% hộ có ti vi, 1.200 xe máy, điện thoại cố định bình quân 16 máy/100 dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 ước đạt 13%, thu nhập bình quân đầu người đạt 7,9 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ giàu chiếm 30%, hộ khá chiếm 60%. Về Hoằng Lộc ta còn bắt gặp sự tài hoa của những người thợ biết làm ra những sản phẩm mang vóc dáng hồn quê, đậm đà chất Việt. Tôi muốn nhắc đến nghề dệt, nghề thợ nơi đây. Nghề dệt đã luyện cho người phụ nữ sự dẻo dai, đôi mắt tinh nhanh và bàn tay khéo léo. Hình ảnh người con gái đoan trang, chăm lo việc canh cửi, sánh với người con trai gắng công đèn sách, đỗ đạt từng được coi là điển hình và là niềm tự hào của quê hương. Như vậy là việc xây dựng Bảng Môn đình, chùa Nhờn đều có bàn tay tài hoa của người thợ trong xã đóng góp. Những đường nét chạm trổ tinh vi, những hình đắp và vẽ rồng chầu nguyệt, cá hóa long, chứng tỏ năng khiếu thẩm mỹ và óc sáng tạo khá phong phú của những nghệ nhân Hoằng Lộc. Những giá trị truyền thống lịch sử tốt đẹp của quê hương đã và đang là hành trang quý báu để Hoằng Lộc vững bước đi tới tương lai tươi sáng. Thế hệ Hoằng Lộc phát huy truyền thống quê hương, dù đi bất cứ nơi đâu cũng xứng đáng là con em của vùng quê “Đất Trạng”. Bài và ảnh: Nguyễn Thanh Quang – Thôn Đình Nam – Xã Hoằng Lộc – Huyện Hoằng Hóa – Tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang công tác tại Trường THCS Hồ Thị Kỷ - Huyện Thới Bình – Tỉnh Cà Mau. Tel: 0985 955 975 ( Có sử dụng tư liệu của Nguyễn văn Hùng )

    LỜI HAY Ý ĐẸP

    Còn thời lên ngựa bắn cung@ Hết thời xuống ngựa lấy thun bắn ruồi@ thanhquang1180

    HỘP THƯ GIAO LƯU

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (NGUYỄN THANH QUANG TEL: 0985 955 975)
    • (Nguyễn Thanh Quang)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    "... PHOTO: NGUYỄN THANH QUANG - GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ - HUYỆN THỚI BÌNH - TỈNH CÀ MAU - TEL: 0985 955 975 - HÂN HOAN CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ GHÉ THĂM DIỄN ĐÀN ..." Website: http://thanhquang1180.violet.vn/

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    "... PHOTO: NGUYỄN THANH QUANG - GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS TÂN LỢI - HUYỆN THỚI BÌNH - TỈNH CÀ MAU - TEL: 0985 955 975 - HÂN HOAN CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ GHÉ THĂM DIỄN ĐÀN ...P/c: Đơn vị công tác mới - Từ tháng 08/2014.

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    Chào mừng quý vị đến với website của " NGUYỄN THANH QUANG "

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    THANHQUANG1180 - HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ

    THANHQUANG1180 - TOÀN CẢNH QUÊ HƯƠNG "ĐẤT TRẠNG" XÃ HOẰNG LỘC

    THANHQUANG1180 - CLIP TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ "VƯỢT KHÓ, VƯƠN LÊN"


    THANHQUANG1180 - CLIP ĐÈN KÉO QUÂN - TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ 2011


    THANHQUANG1180-TIẾT DỰ THI GIÁO VIÊN GIỎI CẤP HUYỆN - THỚI BÌNH 2012


    Gốc > THANHQUANG1180 - MỘT SỐ THUẬT NGỮ - KHÁI NIỆM NGỮ VĂN >

    Sự biến đổi trong từ vựng !

    SỰ BIẾN ĐỔI TRONG TỪ VỰNG

    kiem_tra


    1. Các biến đổi trong từ vựng được quy về những xu hướng dưới đây, thật ra chỉ là sự phân loại cho tiện việc phân tích. Thực tế các sự kiện biến đổi trong từ vựng nhiều khi đa dạng và phong phú, phức tạp hơn.

    2. Các biến đổi này không phải lúc nào cũng diễn ra trong tình trạng tách rời nhau. Chúng có thể cùng diễn ra ở một từ ngữ nào đó và chồng chéo lên nhau, tác động đến nhau. Xét các ví dụ sau đây:

    Tiếng Việt vay mượn của tiếng Hán từ long nhãn. Từ này vốn có nghĩa "quả nhãn". Người Việt đã dùng nó ở ai dạng (a) Long nhãn và (b) Nhãn với hai nghĩa khác nhau:

    long nhãn = cùi nhãn phơi, sấy khô
    nhãn = quả (hoặc cây) nhãn

    Như vậy ở đây, người Việt đã vay mượn từ, rút ngắn từ để cho một từ mới, vì họ cấp cho nó nghĩa mới; còn từ nguyên dạng thì lại cung cấp cho nó một nghĩa khác với nghĩa vốn có ban đầu. Rõ ràng, đã có một số biến đổi cùng diễn ra ở một đơn vị từ vựng. Dưới đây là kết quả phân loại các kiểu biến đổi trong từ vựng:

    - Những biến đổi ở bề mặt từ vựng
    + Hiện tượng rơi rụng bớt từ ngữ
    + Sự xuất hiện các từ ngữ mới
    - Những biến đổi trong chiều sâu của từ vựng

    A. Hiện tượng rơi rụng bớt từ ngữ

    1. Trong ngôn ngữ vốn có một nguyên tắc chung là chỉ lưu giữ những yếu tố, những đối lập hữu ích; những yếu tố, những đối lập nào thừa (chứ không phải là yếu tố dư – hiểu theo cách của lí thuyết thông tin) không phù hợp với như cầu sử dụng của con người, thì đều bị loại bỏ.

    Ví dụ: Trước đây, tiếng Việt có những từ như: mựa (chớ), sá (nên), nữa (hơn), tác (tuổi), chiền (chùa)... hoặc những từ như: thái y, thái giám,... quả thực, nông hội, khổ chủ... thế nhưng ngày nay, trong đời sống giao tiếp thường nhật, chúng gần như vắng bóng hẳn, hoặc hoàn toàn không còn nữa.

    2. Nguyên nhân làm cho một từ rơi rụng đi, có thể trong ngôn ngữ; nhưng cũng có thể là những nguyên nhân ngoài ngôn ngữ.

    2.a. Nguyên nhân trong ngôn ngữ cơ bản là do sự tranh chấp về giá trị và vị trí sử dụng. Sự va chạm bởi quan hệ đồng âm hoặc đồng nghĩa đã dẫn tới tình trạng tranh chấp đó.

    Sự va chạm trong quan hệ đồng âm giữa hai từ A và B không phải bao giờ cũng làm cho một từ phải "ra đi". Chỉ trong một số ít trường hợp, khi cả hai cùng hiện diện được trong ngữ cảnh và gây nên tình trạng lộn xộn, gây mơ hồ hoặc hiểu lầm thì lúc đó một trong hai từ mới bị triệt thoái. Ví dụ: Trong tiếng Anh có từ leten (cho phép) và letten (cản trở, vướng). Cả hai từ này đều biến đổi thành let và đồng âm với nhau. Trong một số hoàn cảnh, chúng gây nên những hiểu lầm. Từ let (cản trở, vướng) nay đã biến mất khỏi đời sống giao tiếp thông thường và chỉ còn để lại bóng dáng của mình trong một số lối nói chuyên môn hoá của môn thể thao quần vợt và môn luật học mà thôi.

    Va chạm về đồng nghĩa là khả năng thường gặp trong rất nhiều trường hợp. Nếu A và B đồng nghĩa với nhau và mỗi từ không có một giá trị, phẩm chất riêng, khác biệt nhau thì một trong hai từ đó sẽ dần dần bị rơi rụng. Ngoài ra, nếu A và B như nhau về mọi mặt nhưng một trong hai từ đó lại có những khó khăn trong sử dụng chẳng hạn, thì nó cũng dần dà bị lãng quên. Tình trạng của các cặp từ tiếng Việt: tác = tuổi, chác = đổi, chiền = chùa, han = hỏi; gìn = giữ... đều là những từ như vậy.

    Khi có tranh chấp và một từ bị rơi rụng thì có thể nó “một đi không trở lại”. Đó là những trường hợp như các từ của tiếng Việt xưa: mựa (chớ); bui (chỉ); nhẫn (tới); phen (so bì); tua (nên); khứng (chịu); khóng khảy (vui mừng); thửa ([giới từ])... Ngược lại, cũng có khi nó còn để lại tàn dư của mình trong từ vựng hiện đại mà ngày nay ta khó hoặc rất khó nhận ra. Chẳng hạn tiếng Việt xưa có các từ như: đòi (theo), chiền (chùa), tác (tuổi), han (hỏi), nữa (hơn), âu (lo), chác (đổi), ngặt (nghèo),... Trong từ vựng tiếng Việt ngày nay, chúng không còn tư cách là từ nữa, mà chỉ còn để lại dấu vết của mình trong các từ theo đòi, chùa chiền, tuổi tác, hỏi han, hơn nữa, lo âu, đổi chác, ngặt nghèo,... mà thôi.

    2.b. Nguyên nhân trong ngôn ngữ thứ hai là sự biến đổi ngữ âm. Trong quá trình diễn biến của ngôn ngữ nói chung và từ vựng nói riêng, bộ mặt ngữ âm của một từ có thể biến đổi đến nối khác lạ hẳn với dạng vốn có ban đầu. Kết cục là dạng cũ của từ bị mất đi bởi vì dạng mới hình thành về sau đã thay thế vào chỗ của nó. Các từ: mấy > với; hoà > và; liễn > lẫn; phen > sánh; mlời > lời... của tiếng Việt đã bị rụng đi bởi nguyên do biến đổi ngữ âm như thế.

    2.c. Một nguyên nhân trong ngôn ngữ nữa là sự rút gọn từ. Nếu một từ nào đó lại có dạng rút gọn của mình thì thông thường, dạng nguyên ban đầu dần dần nhường chỗ cho dạng rút gọn. Điều này được định luật Zipf ủng hộ. Zipf đã chứng minh rằng trong ngôn ngữ, những từ thông dụng thường có xu hướng ngắn hơn những từ không thông dụng. Ví dụ: Tiếng Anh hiện nay đã rút ngắn các từ refrigerator, televison, aeroplane thành fridge, TV, plane và chúng được dùng phổ biến hơn.

    Trong tiếng Việt, ta cũng có thể thấy hàng loạt trường hợp tương tự như vậy: Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết → Liên Xô; Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội → Việt Minh; vô tuyến truyền hình → vô tuyến...

    Tuy nhiên, dù có kích thước dài nhưng không phải từ nào cũng rút gọn được, nhất là đối với những từ phổ biến, được dùng với tần số cao. Khi đó ta thường không gặp dạng rút gọn của nó thay thế cho nó, mà có thể gặp một từ khác ngắn hơn thay thế cho nó. Chẳng hạn, tiếng Anh đã dùng pram (cái xe nôi – dạng rút gọn của từ perambulator) thay thế cho baby carriage và đang ưa dùng car hơn là automobile.

    Sự xuất hiện các từ ngữ mới

    Các từ ngữ mới thường xuất hiện để bù đắp những thiếu hụt, không thoả mãn, không phù hợp với nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng trong đời sống và trong thế giới của con người. Đôi khi, chúng cũng xuất hiện một phần bởi mốt trong cách định danh, muốn dành cho sự vật một tên gọi mới hơn dù nó đã có tên gọi rồi. Tuy nhiên, lí do thứ nhất vẫn là lí do chủ yếu. Có hai con đường cơ bản làm xuất hiện một từ ngữ mới.
    1. Con đường đầu tiên và quan trọng hơn cả là dùng những yếu tố, những chất liệu và quy tắc sẵn có trong ngôn ngữ dân tộc "của mình" để cấu tạo từ mới. Ngoài các phương sách cấu tạo từ thường gặp như đã biết, còn có thể kể thêm như sau:
    1.a. Phương thức loại suy. Có thể hiểu đây là cách tạo từ bằng con đường noi theo cấu tạo của từ có trước. Ví dụ:
    Tiếng Việt vay mượn từ bidoncresson của tiếng Pháp nhưng rồi đã tân trang cấu trúc của chúng theo mẫu của một dãy từ mà người Việt tưởng rằng chúng thuộc cùng một dãy cấu tạo như nhau:
    bidon — bình tông (cùng dãy sau bình tích, bình trà...)
    cresson — cải xoong (cùng dãy sau cải xanh, cải bẹ...)
    Tiếng Anh đã cấu tạo motoway (xa lộ) theo railway; và laundromat (hiệu giặt là tự động) theo automat.
    1.b. Hoà đúc hai từ có sẵn tạo thành từ mới. Ví dụ:
    Tiếng Anh: smog= smoke + fogbrunch= breakfast + lunchmotei= motor + hotel Tiếng Nga: рабкор= рабоуий + корреспондентзарплата= заработная + плата
    1.c. Rút ngắn một cụm từ, hoặc từ dài hơn, tạo thành một từ mới. Ví dụ:
    Tiếng Việt: khiếu tốkhiếu nại + tố cáogiao liêngiao thông + liên lạc Tiếng Anh: public housepub (quán rượu, quán ăn)perambulatorpram (xe nôi)omnibusbus (xe buýt)
    1.d. Hình thành từ mới do cách ghép các con chữ (âm) ở đầu hoặc cuối từ trong một nhóm từ với nhau. Ví dụ: Ở tiếng Anh, RADAR, AIDS, LASER... và một số tên gọi của các tổ chức như FAO, UNICEF, UNESCO... đều đã hình thành bằng con đường như vậy.
    1.e. Hình thành từ mới bằng cách chuyển đổi từ loại của từ có sẵn. Ví dụ:

    Tiếng Anh: garageto garage (cho ô tô ra vào)do one's hairhair-do (kiểu tóc; việc làm đầu)
    Trường hợp đầu: Chuyển danh từ sang động từ. Trường hợp hai: Chuyển động từ sang danh từ.
    2. Con đường thứ hai làm xuất hiện từ ngữ mới là vay mượn
    2.a. Trong ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng vay mượn từ ngữ hoặc yếu tố cấu tạo từ từ một ngôn ngữ khác.
    + Người ta có thể vay mượn các từ, ví dụ như:
    Trong tiếng Việt: mít tinh, bốc, ten nít... (nguồn gốc Anh); ga, xăng, sơ mi, xà phòng... (nguồn gốc Pháp); bôn sê vich, côm xô môn... (nguồn gốc Nga); câu lạc bộ, ngân phiếu, mậu dịch... (nguồn gốc Hán); shi, lượn, bản... (gốc Tày Nùng).
    Trong tiếng Anh: telephone, thermodynamic... (gốc Hi Lạp cổ); cliche, boutique... (nguồn gốc Pháp).
    + Cũng có khi người ta vay mượn yếu tố cấu tạo từ hoặc lấy từ của một ngôn ngữ khác làm yếu tố cấu tạo từ trong ngôn ngữ của mình. Chẳng hạn: các phụ tố -able, -ible, -ent của tiếng Latin; các phụ tố -ism, -ist, -ite của tiếng Hi Lạp; các phụ tố -age, -ance, -ate của tiếng Pháp... đã được vay mượn vào trong tiếng Anh. Trong khi đó, tiếng Việt mượn các yếu tố: -hoá, -sinh, -viên... (nguồn gốc Hán) hoặc mượn hẳn một từ trong ngôn ngữ khác, đem kết hợp với một yếu tố có sẵn của mình để tạo ra từ mới.

    canh + gác (garde – gốc Pháp)→ canh gáckhăn + piêu (gốc Thái)→ khăn piêulàng + bản (gốc Tày Nùng)→ làng bản

    + Căn ke lại từ ngữ của ngôn ngữ khác cũng là một hiện tượng vay mượn ngoài ngôn ngữ. Kết quả của hiện tượng này là người ta có một từ mới, được tạo nên bằng cách trực dịch từng yếu tố cấu tạo trong từ của ngôn ngữ khác. Ví dụ: Tiếng Việt có các từ vườn trẻ, nhà văn hoá... là căn ke từ các tên gọi детский сад, дом кулвтуры... trong tiếng Nga. Tiếng Tày Nùng có từ đin nựa là căn ke từ đất thịt trong tiếng Việt. Người Pháp vay mượn từ skyscrapter của tiếng Anh và đã "đồ" lại thành gratte-ceil.
    2.b. Đối với các từ ngữ vay mượn, mỗi ngôn ngữ đều có cách xử lí khác nhau bên cạnh những đường nét chung. Người Việt khi vay mượn từ ngữ và đưa vào sử dụng trong ngôn ngữ của mình, thường có những điều chỉnh như sau:
    + Cải tổ cấu trúc ngữ âm của từ cho phù hợp với ngữ âm tiếng Việt và đồng thời có thể rút ngắn từ lại. Nói chung, từ nào có dị biệt với ngữ âm tiếng Việt cũng được cải tạo ít nhiều. Ví dụ: beton – bê tông; garde – gác; boulon – bu lông, bù loong; essence – xăng; enveloppe – lốp... meeting – mít tinh; cowboy – cao bồi; tennis – ten nít... thục địa – thục (củ thục); tiểu tiện – tiểu (đi tiểu);tri huyện – huyện (ông huyện)...
    + Cải tổ nghĩa của từ. Vay mượn từ nhưng lại cấp cho nó một nghĩa khác với nghĩa vốn có của nó. Ví dụ: tử tế là từ gốc Hán vốn có nghĩa là cặn kẽ, chu đáo, nhưng vào tiếng Việt, nó được cấp cho nghĩa tốt bụng. Tương tự như vậy, các nghĩa: lên mặt, hợm hĩnh, tỏ thái độ kiêu ngạo đã được cấp cho hai từ hãnh diện, sĩ diện mà từng yếu tố một vốn có những ý nghĩa hoàn toàn khác: hãnh = may mắn; sĩ = học trò; kẻ có có học thức...
    Đọc thêm: Ông nói gà bà tưởng vịt
    + Vay mượn từ ngữ, nhưng không sử dụng tất cả các nghĩa của chúng mà chỉ dùng một số trong các nghĩa đó. Các từ: nhất, hạ, hủ hoá... của tiếng Việt vay mượn từ tiếng Hán là những ví dụ chứng minh cho trường hợp này.

    B. Những biến đổi trong chiều sâu của từ vựng
    Thực chất, nói cho giản dị hơn thì đây là những biến đổi về phương diện ngữ nghĩa của từ trong từ vựng. Những biến đổi này rất phức tạp và tinh tế, nhiều khi chồng chéo lên và cùng diễn ra với những biến đổi ở bề mặt. Có hai trường hợp chính trong biến đổi nghĩa của từ cần được kể tới sau đây.

    1. Thu hẹp nghĩa của từ

    Đúng ra, phải hiểu đây là sự thu hẹp phạm vi biểu hiện (định danh) của từ. Xu hướng này có thể tìm thấy trong những từ như: thầy... của tiếng Việt; meat, deer... của tiếng Anh...
    - thầy: Từ chỗ gọi tên cho các đối tượng như: thầy giáo, thầy đồ, thầy khoá, thầy lang, thầy cai, thầy lí, thầy kí, thầy thông... hiện nay từ này chỉ còn dùng chủ yếu với nghĩa thầy giáothầy thuốc.
    - meat vốn có nghĩa là "thực phẩm" nói chung; deer vốn chỉ "con vật" nói chung, nhưng nay tiếng Anh đã thu hẹp bớt dung lượng nghĩa của các từ này lại: meat = thịt; còn từ deer chỉ có nghĩa là "con hươu"
    Hiện tượng thu hẹp nghĩa rất hay gặp trong khi xây dựng thuật ngữ cho các ngành khoa học: Người ta thu hẹp nghĩa của từ thông thường lại và chỉ dùng với một nghĩa thuật ngữ, nghĩa chuyên môn hoá đó. Trong tiếng Việt, xu hướng thu hẹp nghĩa nói chung là không mạnh bằng mở rộng nghĩa.

    2. Mở rộng nghĩa của từ

    Xét các ví dụ:
    - Động từ land trong tiếng Anh có nghĩa là tiếp đất, hạ cánh (xuống mặt đất). Hiện nay động từ này mở rộng nghĩa ra, bao gồm cả việc hạ cánh xuống mặt nước (The swan landed on the lake – Con thiên nga hạ cánh xuống mặt hồ).
    - Đồng từ cắt trong tiếng Việt vốn có nghĩa là: làm đứt bằng vật sắc. Hiện nay nghĩa của từ này mở rộng ra gồm cả việc chấm dứt hành động, việc làm nào đó (cắt viện trợ, cắt quan hệ, cắt đường chuyền bóng...) hoặc phân công làm việc gì đó theo luân phiên hoặc thứ tự lần lượt: cắt trực nhật, cắt người canh đê, cắt lượt đi tuần...
    Cơ sở của việc mở rộng nghĩa của từ chính là sự chuyển di tên gọi đẫn đến việc chuyển nghĩa theo xu hướng mở rộng. Đồng thời với mở rộng nghĩa tất yếu là mở rộng phạm vi định danh của từ. Ví dụ: Trước đây tiếng Việt có từ đồng hồ vốn có nghĩa là "cái hồ làm bằng đồng, trong đó chứa nước để cho chảy dần đi, căn cứ vào lượng nước đã chảy đi nhiều hay ít để tính thời gian". Ngày nay, từ này đã chuyển sang gọi vật dùng để đo thời gian nói chung mà bất kể nó được làm bằng gì, hoạt động theo nguyên tắc nào: đồng hồ quả lắc, đồng hồ điện tử...

    Tương tự như trên, ta có thế thấy từ fee (tiền công, tiền thù lao), pen (bút) trong tiếng Anh cũng vậy. fee vốn có nghĩa là "gia súc", thời xưa gia súc đã từng được dùng làm vật thanh toán giá trị. Còn pen vốn có nghĩa là "lông ống, lông vũ" – loại lông mà thời xưa được dùng làm bút viết.
    THANHQUANG1180(st)

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thanh Quang @ 08:55 19/04/2011
    Số lượt xem: 1018
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    GIAO LƯU ĐỒNG NGHIỆP