VIỆT NAM

NGHIÊM! ... CHÀO CỜ! ... CHÀO!

THANHQUANG1180

KÍNH BẠN CHÉN TRÀ

DỰ BÁO THỜI TIẾT

MÁY TÍNH

Code:

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Videoplayback_.flv Images30.jpg Diendanhaiduongcom20012m1.jpg Thanhnhaho1.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Chuc_2013_Quang_loan.swf Bannertet2013.swf My_Hanh_chuc_mung_nam_moi_2013.swf Nguoi_thay_nam_xua_co_nhac_.swf 2011_chuan.swf Sntrungkien.swf Tan_co_loi_thu_xua.swf Namhocmoi_2.swf Ldta2.swf P1000722.jpg P1000737.jpg P1000759.jpg P1000772.jpg

    ĐỌC BÁO CÙNG BẠN

    Sắp xếp dữ liệu

    THANHQUANG1180

    "Lạc nước hai xe đành bỏ phí @ Gặp thời một tốt cũng thành công"

    GÓC TRA TỪ ĐIỂN


    Tra theo từ điển:


    THANHQUANG1180

    "GIEO ĐỨC TRỒNG NHÂN ĐƯỜNG HƯỞNG THIỆN @ LÀM CẦN TIÊU KIỆM ĐÍCH PHỒN VINH"

    LÀNG CÓ NHIỀU GIÁO SƯ - TIẾN SĨ ( XÃ HOẰNG LỘC - HUYỆN HOẰNG HÓA - TỈNH THANH HÓA).

    Quê Hương Đất Trạng Email:thanhquang1180@yahoo.com.vn Friday,ngày30/04/2010 Website:http://viollet.vn/thanhquang1180/ LÀNG CÓ NHIỀU TIẾN SĨ ( Xã Hoằng Lộc – Huyện Hoằng Hóa – Tỉnh Thanh Hóa ) “Quê hương: Nguyễn Thanh Quang – Hiện đang công tác tại Trường THCS Hồ Thị Kỷ - Huyện Thới Bình – Tỉnh Cà Mau” Tel: 0985 955 975 Nhà thờ Nguyễn Quỳnh - Cống Quỳnh – Trạng Quỳnh Xã Hoằng Lộc – Huyện Hoằng Hóa – Tỉnh Thanh Hóa (THANHQUANG1180) - Việc học ở Hoằng Lộc đã thành nếp, nhà nhà học, người người học. Nơi đây đã có truyền thống cha dạy con, ông dạy cháu, anh dạy em nối tiếp dòng thi thư. Dường như vật chất càng khó khăn sự khổ luyện học hành càng rõ, học để thoát nghèo, thoát khổ, để thi thố với đời, với người. Sĩ tử Hoằng Lộc phần lớn học trong gia đình, trong dòng họ. “Từ mấy thế kỷ nay, trong tâm thức không ít người Việt tôn vinh Cống Quỳnh. Nhiều nơi còn gọi Hoằng Lộc là đất Trạng, đất có nhiều người đỗ đạt khoa bảng”. Lê Khả Phiêu ( Nguyên Tổng Bí Thư BCHTW Đảng (18-2-2003). Hoằng Lộc (Hoằng Hóa) ẩn mình dưới những rặng dừa quanh năm một màu xanh dịu, nhìn đến mát mắt. Với một quần thể kiến trúc bố trí tương đối hài hòa, gồm nhà thờ họ, miếu mạo, đình chùa, trường học, nhà ở cùng với một hệ thống đường sá phong quang, Hoằng Lộc mang phong thái thanh lịch của một vùng đất học, làm cho ai qua đây, dù chỉ một lần cũng lưu lại trong ký ức những ấn tượng khó có thể phai mờ. Làng có nhiều tiến sĩ Ông Nguyễn Văn Kỳ, Chủ tịch Hội khuyến học xã Hoằng Lộc, cho biết: “Thời phong kiến, Hoằng Lộc có 12 vị tiến sĩ được đề danh trên bảng vàng đại khoa, trong đó có 7 vị được khắc tên tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội). Sau Cách mạng Tháng Tám, số tiến sĩ là con em Hoằng Lộc lên đến 45 người. Cuối năm 2008 vừa qua, đại hội dòng họ và khu dân cư hiếu học tổng kết trong 5 năm qua toàn xã có 258 gia đình đạt danh hiệu gia đình hiếu học, hơn 60 gia đình - mỗi nhà có từ 3 đến 5 người con học đại học. Có những gia đình cả con trai, con gái, con dâu và cháu nội đều là tiến sĩ. Trong 5 năm, toàn xã có 204 em trúng tuyển vào các trường đại học. Theo lời kể của ông Kỳ, chúng tôi tìm đến nhà bà Nguyễn Thị Huệ ở xóm Hưng Tiến. Bà Huệ cho biết: Tôi và ông nhà lấy nhau trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, xóm làng nghèo xơ xác. Nhưng, dù khó khăn đến đâu chúng tôi cũng cố gắng tảo tần để các con được ăn học. Hiện tại nhà bà có 4 người con đều là tiến sĩ, cô con dâu là thạc sĩ và đứa cháu nội Nguyễn Song Anh cũng là tiến sĩ”. Chia tay bà Huệ, tôi đã tìm đến thầy giáo Nguyễn Song Hoan – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức, là con trai của bà. Anh Hoan xúc động khi nhớ lại những tháng năm miệt mài đèn sách: “Bốn anh em chúng tôi được bố mẹ xác định việc học là việc chính, xem đó là nghề để kiếm sống sau này. Dẫu có nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng tôi thấy con em Hoằng Lộc không chùn bước trước nghèo nàn mà luôn vươn lên để học giỏi”. Ông Hoàng Hữu Tài, Chủ tịch UBND xã Hoằng Lộc, cho biết: Ở Hoằng Lộc, Bảng Môn đình được xây dựng làm biểu tượng thiêng liêng của đất học, nơi hội tụ và biểu dương thành tích học tập của các sĩ tử, nho sinh. “Bảng Môn” có nghĩa là cửa vào của các nhà khoa bảng. Vào dịp đầu xuân năm mới, con cháu đỗ đạt hội tụ về Bảng Môn đình để “vinh quy bái tổ”. Sau lễ nghi là phần đọc tóm tắt tiểu sử những vị đỗ đại khoa qua các triều đại nhằm nhắc nhở các gia đình giáo dục con cái phát huy truyền thống học hành của các bậc tiền bối. Trong ngày tế lễ đầu năm, việc bố trí chỗ ngồi được quy định theo lệ: Đỗ đại khoa (tiến sĩ) ngồi chiếu trên rồi đến hương cống, cử nhân. Hàng chiếu bên trái là các sinh đồ, tú tài. Hàng chiếu bên phải dành cho những nho sinh, sĩ tử chưa thi đỗ, hoặc những người trong làng văn - tuy chưa có học vị nhưng phẩm chất đạo đức tốt. Gia phả các dòng họ ở Hoằng Lộc đều chú trọng nêu cao tinh thần khuyến học bằng vật chất cho những người học hành đỗ đạt. Gia phả dòng họ Nguyễn Nhân Lễ chép: “Họ có 8 sào ruộng, theo tộc ước, người nào đỗ đại khoa (tiến sĩ) thì được họ chia cho một phần trong số ruộng đất ấy để xây nhà ở. Số còn lại dùng làm “học điền” cho con em trong dòng họ”. Trai thanh, nữ tú Hoằng Lộc luôn đặt việc học lên hàng đầu: Trai mỹ miều gắng công đèn sách Gái thanh tân chăm mạch cửi canh. Chính điều này mà đất học Hoằng Lộc đã có nhiều tấm gương sáng của thầy và trò. Hiện tại, xã Hoằng Lộc có một câu lạc bộ nhà giáo hưu trí với gần 100 nhà giáo sinh hoạt. Điều đó cho thấy, người thầy có ngay trong gia đình, trong dòng họ. Học trò Hoằng Lộc xưa cũng rất nổi tiếng về luyện rèn trong học tập, kiên trì trong khoa cử. Đó là Nguyễn Cầu thi đỗ tú tài lúc 13 tuổi, năm 16 tuổi đỗ hương cống; Nguyễn Huy kiên nhẫn dự thi hội tới 9 khoa; Nguyễn Đôn Túc dự tới 9 khoa thi hương, đậu cử nhân lúc đã cao tuổi khiến cho quan trường đương thời rất cảm phục. Ngày nay, mỗi năm cả xã có từ 40 đến 50 em thi đậu vào các trường đại học cho thấy một sức sống mãnh liệt về thi cử ở miền đất học ấy. Tiêu biểu như em Nguyễn Phi Lê ( Thôn Đình Nam – Hoằng Lộc – Hoằng Hóa – Thanh Hóa ) đoạt giải Nhì cuộc thi Toán quốc tế tại Hàn Quốc năm 2000, được tuyển thẳng vào Đại học Bách khoa Hà Nội. Với thành tích học tập xuất sắc, em được dự thi du học học bổng toàn phần tại Nhật Bản. Có lẽ, những lời ca ngợi của nhân dân xứ Thanh và cả nước: “Thi Hoằng Hóa, khóa Đông Sơn”, hay “Cơm Nông Cống, cá Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa” có một phần đóng góp không nhỏ của Hoằng Lộc. Làm giàu bằng trí tuệ Là vùng đất sản xuất nông nghiệp, Hoằng Lộc không chỉ giàu kinh nghiệm trong gieo trồng cây lúa mà còn rất giàu kinh nghiệm về trồng khoai và cây dừa cho năng suất cao. Gặp những năm mất mùa, khoai lang Hoằng Lộc đã trở thành nguồn lương thực chính nên dân gian xưa có câu: Ông nghè, ông cống cũng sống vì lang Ông lý giữa làng không lang cũng chết. “Trăm nghe không bằng một thấy”, tôi được anh Thọ, cán bộ văn hóa xã Hoằng Lộc, dẫn đi thăm một số mô hình kinh tế của nông dân trong xã. Đến thăm gia đình anh Nguyễn Hữu Quyền, ở thôn Sau mới thấy việc làm kinh tế ở Hoằng Lộc không “ngoa” tý nào. Anh Quyền là hộ nông dân sản xuất giỏi và con cái thành đạt. Anh nhận 2 mẫu ruộng khoán. Ruộng được tích tụ, anh mạnh dạn mua máy móc đưa cơ giới hóa vào sản xuất nên hiệu quả rất cao. Bên cạnh đó, anh liên tục sử dụng các loại giống lúa mới nên bình quân mỗi năm thu hoạch được 10 tấn thóc. Vừa làm cho gia đình, vừa phục vụ cho các hộ có nhu cầu về máy móc, anh Quyền cũng kiếm được từ 50 đến 60 triệu đồng/năm từ trồng lúa, chăn nuôi và phục vụ máy móc cho nông dân. Hoằng Lộc có nhiều mô hình làm ruộng như anh Quyền. Cùng với sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực kinh doanh – dịch vụ thương mại cũng được coi là thế mạnh của hội nhập và phát triển. Bởi lẽ, toàn xã có 240 hộ kinh doanh, buôn bán có thu nhập ổn định trên 60 triệu đồng/năm. Mạng lưới giao thông nông thôn đều được bê tông hóa, có đường nhựa đi vào tận từng thôn xóm. Hơn 50% số hộ gia đình có nhà cao tầng, 100% hộ có ti vi, 1.200 xe máy, điện thoại cố định bình quân 16 máy/100 dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 ước đạt 13%, thu nhập bình quân đầu người đạt 7,9 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ giàu chiếm 30%, hộ khá chiếm 60%. Về Hoằng Lộc ta còn bắt gặp sự tài hoa của những người thợ biết làm ra những sản phẩm mang vóc dáng hồn quê, đậm đà chất Việt. Tôi muốn nhắc đến nghề dệt, nghề thợ nơi đây. Nghề dệt đã luyện cho người phụ nữ sự dẻo dai, đôi mắt tinh nhanh và bàn tay khéo léo. Hình ảnh người con gái đoan trang, chăm lo việc canh cửi, sánh với người con trai gắng công đèn sách, đỗ đạt từng được coi là điển hình và là niềm tự hào của quê hương. Như vậy là việc xây dựng Bảng Môn đình, chùa Nhờn đều có bàn tay tài hoa của người thợ trong xã đóng góp. Những đường nét chạm trổ tinh vi, những hình đắp và vẽ rồng chầu nguyệt, cá hóa long, chứng tỏ năng khiếu thẩm mỹ và óc sáng tạo khá phong phú của những nghệ nhân Hoằng Lộc. Những giá trị truyền thống lịch sử tốt đẹp của quê hương đã và đang là hành trang quý báu để Hoằng Lộc vững bước đi tới tương lai tươi sáng. Thế hệ Hoằng Lộc phát huy truyền thống quê hương, dù đi bất cứ nơi đâu cũng xứng đáng là con em của vùng quê “Đất Trạng”. Bài và ảnh: Nguyễn Thanh Quang – Thôn Đình Nam – Xã Hoằng Lộc – Huyện Hoằng Hóa – Tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang công tác tại Trường THCS Hồ Thị Kỷ - Huyện Thới Bình – Tỉnh Cà Mau. Tel: 0985 955 975 ( Có sử dụng tư liệu của Nguyễn văn Hùng )

    LỜI HAY Ý ĐẸP

    Còn thời lên ngựa bắn cung@ Hết thời xuống ngựa lấy thun bắn ruồi@ thanhquang1180

    HỘP THƯ GIAO LƯU

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (NGUYỄN THANH QUANG TEL: 0985 955 975)
    • (Nguyễn Thanh Quang)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    "... PHOTO: NGUYỄN THANH QUANG - GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ - HUYỆN THỚI BÌNH - TỈNH CÀ MAU - TEL: 0985 955 975 - HÂN HOAN CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ GHÉ THĂM DIỄN ĐÀN ..." Website: http://thanhquang1180.violet.vn/

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    "... PHOTO: NGUYỄN THANH QUANG - GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS TÂN LỢI - HUYỆN THỚI BÌNH - TỈNH CÀ MAU - TEL: 0985 955 975 - HÂN HOAN CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ GHÉ THĂM DIỄN ĐÀN ...P/c: Đơn vị công tác mới - Từ tháng 08/2014.

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    Chào mừng quý vị đến với website của " NGUYỄN THANH QUANG "

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    THANHQUANG1180 - HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ

    THANHQUANG1180 - TOÀN CẢNH QUÊ HƯƠNG "ĐẤT TRẠNG" XÃ HOẰNG LỘC

    THANHQUANG1180 - CLIP TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ "VƯỢT KHÓ, VƯƠN LÊN"


    THANHQUANG1180 - CLIP ĐÈN KÉO QUÂN - TRƯỜNG THCS HỒ THỊ KỶ 2011


    THANHQUANG1180-TIẾT DỰ THI GIÁO VIÊN GIỎI CẤP HUYỆN - THỚI BÌNH 2012


    Gốc > THANHQUANG1180 - NHỮNG BÀI VĂN HAY - VĂN MẪU >

    BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM 10 KÌ THI ĐẠI HỌC 2009

    BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM 10 KÌ THI ĐẠI HỌC 2009

    Câu 1 (2 điểm): Anh/ chị hãy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.

    Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn trăn trở để nâng cao "Đôi Mắt" của mình. Tất cả những gì Nam Cao để lại cho cuộc đời chính là tấm gương của một người "trí thức trung thực vô ngần" luôn tự đấu tranh để vươn tới những cảnh sống và tâm hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu như vậy, Nam Cao đã thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của mình trước cách mạng tháng Tám.

    Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua "Trăng Sáng" và "Đời Thừa". Trong "Trăng Sáng", nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải "vị nhân sinh", nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những gì có thật giữa cuộc đời, giữa xã hội mà mình đang sống. Ông viết "Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than". Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam Cao mang tâm sự u uất, đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ "tài cao, phận thấp, chí khí uất" (Tản Đà) mà đó còn là tâm sự của người người trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xã hội đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc. Trái lại ông còn có một trái tim chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo lam lũ. Chính vì lẽ đó mà văn chương của ông luôn cất lên "những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than".

    Trong "Đời thừa", một tác phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ thuật. Khi mà ta đã chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của mình thì ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt được. "Đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã tuổi trẻ say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, suy ngẫm, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa...". Nam Cao còn quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: "sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện". Với Nam Cao, bản chất của văn chương là đồng nghĩa với sự sáng tạo "văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Quan điểm của Nam Cao là, một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: "Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn".

    Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thể hiện trước cách mạng tháng Tám. Quan điểm sáng tác thể hiện trong hai truyện "Trăng Sáng" và "Đời Thừa" giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta hiểu vì sao Nam Cao - một nhà văn chưa tròn bốn mươi tuổi lại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại đến như vậy.

    Câu 2 (5 điểm): Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).

    Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

    Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mắt buồn rười rượi". Đó là tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.

    Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân.

    Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa... Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.

    Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.

    Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lý trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn ác hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này.

    Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…

    Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật, tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.

    Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.

    Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”.

    Phần riêng (3 điểm): Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:

    Gió theo lối gió mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?

    Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận "cái tình" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rõ nét trong khổ thơ:

    "Gió theo lối gió mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?"

    Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ

    Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại như huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.

    Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thì mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tả vô tình, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

    Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình lại thay đổi:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn. Hình ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. Tình cảm ấy quả thật là tình cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).

    Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tình trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngóng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:

    “Mơ khách đường xa khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?”

    Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với mình, tâm trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.

    Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -…. kịp tối nay” để lại trong lòng người đọc những tình cảm đẹp. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư.

    Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực, do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam

    Nguyễn Trung Ngân (dự thi ĐH Cần Thơ)


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thanh Quang @ 16:35 18/04/2011
    Số lượt xem: 646
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    GIAO LƯU ĐỒNG NGHIỆP